Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu văn 9
Lớp 9

Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu văn 9

Phan tich bai tho Dong chi cua Chinh Huu – Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu. Bài phân tích của một bạn học sinh lớp 9 tại Hàm Rồng.

Mở bài: Giới thiệu về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

“Đồng chí” là một trong những bài thơ đặc sắc của Chính Hữu viết về anh bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp. Bài thơ được tác giả viết vào mùa xuân năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Nổi bật lên trong bài thơ là tình đồng chí cao cả và thiêng liêng, gian khổ có nhau của những người nông dân mặc áo lính giữa thời chiến tranh khói lửa.

Thân bài: Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Cả bài thơ chỉ với hai mươi dòng thơ nhưng đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc bằng ngôn ngữ bình dị và lời thơ như lời thủ thỉ tâm tình đầy cảm xúc.

Hai câu thơ đầu với cấu trúc song hành, đối xứng nhau làm người đọc liên tưởng đến hai người bạn lính đang tâm sự cùng nhau:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Cả “quê hương anh” và “làng tôi” đều là những vùng quê nghèo khổ, là nơi “nước mặn đồng chua” và “đất cày lên sỏi đá”. Điều đặc biệt ở đây là tác giả đã mượn các câu thành ngữ, tục ngữ để nói về quê hương của mình, điều này làm cho chất thơ trở nên bình dị, mộc mạc như tâm hồn của người chiến sĩ. Hai người lính đã gặp nhau ở sự đồng cảm, đây là cơ sở làm nên tình đồng chí của họ sau này.

Năm câu tiếp theo diễn tả một quá trình từ những người xa lạ thành những người tri kỉ và cuối cùng là kết thành “đồng chí”:

“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!”

Anh với tôi mỗi người một quê hương nên không quen biết gì nhau nhưng rồi khi cùng nhau đứng dưới lá quân kì, cùng nhau chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thì từ những người “xa lạ” họ đã trở thành “tri kỉ”. “Súng bên súng” là một cách nói hình tượng thể hiện sự cùng chung lý tưởng cách mạng là chiến đấu để bảo vệ quê hương đất nước, độc lập tự do và sự sống còn của dân tộc. “Đầu sát bên đầu” không chỉ đơn thuần là hai mái đầu sát bên nhau mà đây còn là hình ảnh diễn tả sự tâm đầu ý hợp của đôi bạn. Để từ người xa lạ trở thành tri kỉ của nhau đâu có khó khăn gì, chỉ bằng việc đắp chung một chiếc chăn trong mùa đông giá lạnh thôi. Câu thơ thật cảm động vừa diễn tả được tình đồng đội sâu sắc vừa cho thấy sự khắc nghiệt của một thời chiến tranh gian khổ. Nhịp thơ đang đều đều bỗng đến câu thơ thứ tám thì thay đổi đột ngột, rút ngắn lại chỉ còn hai từ “đồng chí”. Đến đây thì từ người xa lạ họ đã trở thành đồng chí. Nhà thơ sử dụng một loạt các từ ngữ có tính gợi cao như “bên”, “sát”, “chung” thể hiện sự gắn bó thiết tha giữa những người tri kỉ, đồng chí.

Ba câu thơ tiếp theo diễn tả một nỗi nhớ chung của hai người đồng chí:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

Nỗi nhớ đó hướng về ruộng nương, bạn thân cày, gian nhà, giếng nước, gốc đa. Hình ảnh nào cũng thấm thía một tinh cảm thắm thiết với quê hương. Giếng nước, gốc đa là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam nay được Chính Hữu đưa vào thơ của mình, những hình ảnh này đã được nhân hóa để dõi theo bóng hình của chàng trai ra trận, hay phải chăng là người lính vẫn đêm ngày ôm ấp bóng hình của quê hương.

Những dòng thơ tiếp diễn tả hiện thực khắc nghiệt trong chiến tranh, quân và dân ta gặp muôn vàn khó khăn: thiếu vũ khí, lương thực…và họ còn phải đối mặt với những cơn sốt rét rừng là hiểm họa khôn lường đối với những người lính:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay năm lấy bàn tay”

Đọc những dòng thơ trên, người đọc có thể dễ dàng tưởng tượng ra những người lính “áo vải chân không đi lùng giặc đánh” nhưng trên miệng những người lính ấy vẫn nở nụ cười sưởi ấm tâm hồn trong giá lạnh. Nụ cười trong buốt gia ấy thể hiện sự lạc quan của những người lính cho dù phải chịu đựng muôn vàn khó khăn gian khổ. Chữ “biết” được tác giả sử dụng thể hiện sự cùng nhau nếm trải, cùng nhau chung chịu những gian nan thử thách. Giữa lúc khó khăn ấy, tình đồng đội được biểu hiện bằng cử chỉ hết sức gần gũi: “tay nắm lấy bàn tay”. Hai người đồng đội nắm lấy tay nhau để động viên nhau, để truyền cho nhau sức mạnh đủ sức vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Phần cuối của bài thơ vẽ ra cảnh hai người đồng chí “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” :

“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”

Hình ảnh “đầu súng trăng treo” là một hình ảnh thơ mộng, thể hiện sự yêu đời, tình đồng chí keo sơn gắn bó và mơ đến một đất nước thanh bình. Đây là một sáng tạo mới mẻ trong thơ ca, Chính Hữu đã mượn trăng để tô đậm thêm cái tư thế hiên ngang “chờ giặc tới” của người lính. Vẻ đẹp thơ mộng, huyền diệu của ánh trăng đã che lấp đi mọi gian nan căng thẳng của những trận đánh nơi chiến trường, và đây cũng là vẻ đẹp cao cả thiêng liêng của tình đồng chí, tinh thần chiến đấu.

Kết bài: Bài văn phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Bài thơ “Đồng chí” là một bài thơ rất độc đáo của Chính Hữu viết về những người lính, vừa diễn tả được đời sống vật chất với muôn vàn khó khăn, thiếu thốn lại vừa diễn tả được vẻ đẹp cao cả, thiêng liêng, sự lạc quan trong tâm hồn của họ. Bài thơ xứng đáng là một bức tượng đài tráng lệ về hình ảnh người lính trong kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta.

Loading...