Bình giảng bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương văn 11
Lớp 11

Bình giảng bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương văn 11

Binh giang Vinh khoa thi huong cua Tu Xuong – Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn bình giảng bài thơ vịnh khoa thi hương của Tú Xương. Bài làm văn của Ngọ Thị Quỳnh trường THPT Tuyên Quang.

Mở bài Bình giảng bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương văn 11

Nhà thơ Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương, cuộc đời ông chỉ gắn với thi cử. Tài năng trong thơ ca đặc biệt là thơ trào phúng đã tôn vinh tên tuổi của ông lên vị trí hàng đầu trong giai đoạn cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20. Sự nghiệp thơ ca của Tú Xương được mọi người ca ngợi như một chàng trai sung sức bất chấp mọi thử thách của thời gian. Ông đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, Vịnh khoa thi hương là một tác phẩm đặc sắc trong số đó thể hiện thái độ mỉa mai phẫn uất của nhà thơ đối với chế độ khoa cử nhốn nháo đối với chế độ thi cử lúc bấy giờ và con đường thi cử lận đận của riêng ông

Thân bài Bình giảng bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương văn 11

Cuối thế kỉ XIX thực dân Pháp xâm lược nước ta cùng sự thối nát của xã hội phong kiến đang có tư tưởng đầu hàng bọn thực dân thì cuộc sống của các nhà nho vô cùng cực khổ đặc biệt là các nhà nho yêu nước . Nhưng kì thi khoa cử vẫn diễn ra. Bài thơ là bức tranh miêu tả sống động và hết sức thực tế của kì thi đó.

Hai câu đầu tiên tác giả viết:

“Nhà nước ba năm mở một khoa thi
Trường Nam thi lẫn với trường Hà”
Việc thi cử ngày xưa là do triều đình lập ra mục đích là kén chọn người tài phục vụ đất nước. Tác giả đã giới thiệu kì thi khoa cử này ba năm diễn ra một lần và đây là kì thi khoa hương năm Đinh Dậu. Nhưng đặc điểm thứ hai khiến nó trở nên bất thường :trường nam định thi lẫn với trường hà nội . Thời Nguyễn ở Bắc Kì có hai trường thi là trường thi ở Hà Nội và trường thi ở Nam Định. Nhưng vào năm Đinh Dậu thực dân Pháp không cho tổ chức thi ở trường thi Hà Nội nữa mà dồn hết xuống trường thi ở Nam Định thi. Cách dùng từ “lẫn”tạo thái độ mỉa mai châm biếm và dự đoán một sự ô hợp trong việc cử . Và thực tế đã gây nên sự lộn xộn nhốn nháo thiếu nề nếp quy củ của cuộc thi. Sự nhốn nháo này phần nào cho ta thấy được tình cảnh của đất nước lúc bấy giờ và sự áp đảo của bọn giặc ngoại bang đang lăm le nước ta . Những câu thơ tiếp theo đã lột tả tất cả cái chớ trêu buồn cười trong khi thi.

“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa”
Hình ảnh sĩ tử xuất hiện trong thơ Tú Xương thật buồn cười khi bị gán vào từ “vai đeo lọ”. Ngày xưa sĩ tử khi đi thi phải mang theo rất nhiều thứ như lều võng đồ ăn thức uống và lọ ở đây có thể được hiểu theo hai nghĩa đó là lọ uống nước và nghĩa thứ hai là lọ mực. Nhưng hiểu theo nghĩa nào thì nó cũng thể hiện cái lôi thôi lếch thếch của sĩ tử khi đi dự thi. Trong số những người này có người sẽ làm quan nọ quan kia vậy mà  nhìn dáng vẻ của họ bấy giờ như một đám hỗn độn ngoài chợ chứ không phải là chốn quan trường uy nghiêm. Nghệ thuật đảo ngữ đảo tính từ “lôi thôi” lên trước “sĩ tử”càng làm cho nhân vật sĩ tử trở nên luộm thuộm nhếch nhác lôi thôi. Cùng với đó cũng là nghệ thuật đảo ngữ ở câu tiếp theo khiến ta lấy làm buồn cười và chế giễu cảnh quan trường lộn xộn này khi đặt “ậm ọe” lên trên quan trường và khiến trường thi trở nên nhố nhăng . Thực tế ta cũng thấy rằng việc dùng loa để ổn định trật tự quan trường cũng là điều hết sức bình thường bởi nơi trường thi rất nhiều người nên không thể không dùng đến loa được nhưng cái buồn cười ở chỗ là đối tượng người coi thi nói năng ậm ọe ấp úng ra oai gượng gạo. Bên cạnh đó hình ảnh “miệng thết loa”cũng cho thấy cảnh lộn xộn nhấn nháo của trường thi. Nhân vật sĩ tử và quan trường vốn được coi trọng và đại diện cho các giá trị truyền thống  nhưng ở đây lại đem lại cho chúng ta một sự lôi thôi nhếch nhác đáng bị chê cười.

Hai câu tiếp theo là cảnh quan trường của ta bị thực dân Pháp ra uy:

“Lọng cắm rợp trời quan sứ đến
Váy lê quẹt đất mụ đầm ra”
Cảnh trường thi lúc này lại là “lọng cắm rợp”, đó là những chiếc cờ được treo lên khi có sự xuất hiện của những người dường như không liên quan đến kì thi nhưng lại rất được coi trọng. Sau những chiếc lọng là hình ảnh quan sứ bước ra và đi sau đó là “váy lê quẹt đất”cùng”mụ đầm” bước ra chính là một sự thay đổi lớn và khiến trường thi trở nên mới mẻ. Hai kiểu nhân vật này đại diện cho một xã hội mới một thời đại mới và một nền giáo dục mới. Cách gọi “quan sứ” đăng đối với “mụ đầm”thể hiện cái giễu cợt chê bai của tác giả. Tác giả gọi những tên quan sứ bằng giọng điệu rất kính trọng nhưng vợ củ hắn lại được tác giả gọi với một thái độ khinh bỉ”mụ”ở đây là chỉ những loại đàn bà không ra gì, thấp kém trong xã hội khiến loạt cảnh này lại gây cười thêm một lần nữa. Bằng phép đối lập giữa quan sứ và bà đầm với một bên là cờ lọng với váy lê tác giả đã vẽ lên bức tranh biếm họa trường thi đầy rẫy nhưng ngược đời đối lập trớ trêu. Hình ảnh quan sứ và mụ đầm là sự phô trương về hình thức và không đúng với lễ nghi. Tất cả báo hiệu sự sa sút về chất lượng của một kì thi cử, đây cũng là bản chất của xã hội thực dân phong kiến . Tiếng cười mỉa mai chau xót của Tú Xương cất lên nhưng bên cạnh đó là tình cảm buồn thương cho sự nhục nhã của giới trí thức nói chung và toàn thể dân tộc nói chung.

“Nhân tài đất Bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”
Nỗi xót thương cho đất nước cho triều đình đã được nhà thơ thốt lên và như lời kêu gọi nhân tài đất nước. ”nhân tài” được tác tác giả kêu gọi ở đây là tất cả những sĩ phu đang ngồi trong trường thi kia đang dự thi để đỗ đã thành quan để phục vụ nhân dân đất nước. Không chỉ có những sĩ tử kia mà nhân tài ở đây còn có thể hiểu rộng ra là cả những quan trường, những bậc trí thức và tất cả những người dân có trách nhiệm đối với đất nước “Ngoảnh cổ”là thái độ tâm thế không cam tâm sống mãi trong cảnh đời nô lệ, “cảnh nước nhà” là hiện trạng của xã hội phong kiến thối nát và thực trang sự trưng bày phô trương của bon thực dân đang xâm lấn đất nước ta. Tác giả kêu gọi tinh thần yêu nước trong bản thân mỗi con người, thức tinh lòng tự tôn dân tộc. Đồng thời cũng bộc lộ tâm trạng buồn chán của nhà thơ trước thực cảnh nô lệ của đất nước
Sự kết hợp hòa hợp giữa sự châm biếm đả kích và trữ tình cùng với đó là nghệ thuật đảo ngữ đối lập thể hiện bức tranh quang cảnh trường thi và sự nhố nhăng trong khung cảnh tiếp đón quan sứ. Bên cạnh đó không thể không kể đến sự châm biếm đả kích của tác giả vào bài thơ cũng khiến cho tác phẩm trở nên sinh động và hài hước hơn cùng với làm lột tả cảnh nô lệ của đất nước đang bị bọn thực dân áp bức.

Kết luận Bình giảng bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương văn 11

Bài thơ vịnh khoa thi hương thể hiện rất sắc nét hình tượng tác giả vừa miêu tả cảnh trường thi một cách thẳng thắn vừa bộc lộ vào trong đó là những cảm xúc chân thật của tác giả khi đứng trước tình cảnh đất nước giặc ngoại xâm áp bức trong khi mình cũng là một nhà nho, một “nhân tài”của đất nước. Bài thơ cho người đọc thấy được thái độ trọng danh dự, tâm sự lo nước thương đời và tâm trang đau đớn của tác giả trước tình trạng thi cử trong buổi đầu chế độ thuộc địa nửa phong kiến.

Loading...